BÁO CÁO KẾT QUẢ THỰC HIỆN NGHỊ QUYẾT ĐẠI HỘI ĐẢNG BỘ HUYỆN LẦN THỨ X, NHIỆM KỲ 2010 - 2015

Thông báo

BÁO CÁO KẾT QUẢ THỰC HIỆN NGHỊ QUYẾT ĐẠI HỘI ĐẢNG BỘ HUYỆN LẦN THỨ X, NHIỆM KỲ 2010 - 2015

DỰ THẢO

BÁO CÁO

KẾT QUẢ THỰC HIỆN NGHỊ QUYẾT ĐẠI HỘI ĐẢNG BỘ HUYỆN LẦN THỨ X, NHIỆM KỲ 2010 – 2015 (Báo cáo của Ban Chấp hành Đảng bộ huyện khóa X trình Đại hội đại biểu Đảng bộ huyện lần thứ XI)

PHẦN THỨ NHẤT KẾT QUẢ THỰC HIỆN NGHỊ QUYẾT ĐẠI HỘI X (NHIỆM KỲ 2010 - 2015)

Năm năm qua, mặc dầu đứng trước những khó khăn, thách thức, nhất là ảnh hưởng của khủng hoảng và suy thoái kinh tế; thời tiết diễn biến phức tạp, thiên tai, dịch bệnh xảy ra liên tiếp... Song, Đảng bộ và nhân dân trong huyện nhà đã đoàn kết nhất trí, nỗ lực, phấn đấu thực hiện Nghị quyết Đại hội Đảng bộ huyện lần thứ X đạt được kết quả khá toàn diện.

I- NHỮNG KẾT QUẢ ĐẠT ĐƯỢC

1- Về thực hiện nhiệm vụ phát triển kinh tế

1.1- Sản xuất nông nghiệp

Nét nổi bật đó là đã tập trung chỉ đạo, thực hiện công tác chuyển đổi cơ cấu cây trồng hiệu quả, ưu tiên phát triển những cây trồng lợi thế; việc ứng dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật vào sản xuất nông nghiệp được quan tâm mở rộng, tỷ lệ sử dụng giống xác nhận đạt gần 90%; cơ giới hóa các khâu trong quá trình sản xuất đạt trên 90%; các mô hình luân canh, xen canh được áp dụng phổ biến, năng suất cây trồng được cải thiện đáng kể, ổn định diện tích trồng lúa 8720ha theo quy hoạch; sản lượng lương thực đạt 117 ngàn tấn, vượt 7,33% chỉ tiêu Nghị quyết. Cây công nghiệp lợi thế tăng: Cao su 36%, cây điều tăng 79%; hình thành các vùng sản xuất tập trung khá rõ nét; năng suất, chất lượng, hiệu quả được nâng lên; chuyển trên 1300ha đất lúa từ 03 vụ sang 02 vụ lúa 01 vụ màu, đưa diện tích nuôi trồng thủy sản kết hợp trồng sen bước đầu tăng thu nhập. Từng bước hình thành vùng sản xuất hàng hóa tập trung góp phần tăng thu nhập từ 30 triệu đồng lên 40 triệu đồng/ha/năm.

Kết cấu hạ tầng nông nghiệp, nông thôn được tiếp tục đầu tư, hệ thống kênh mương thủy lợi được mở rộng, hoàn thành cơ bản tuyến kênh chính bắc Tà Pao (đoạn qua Mê Pu, Sùng Nhơn) góp phần đưa diện tích chủ động tưới lên 16.500ha, tăng 65% so với chỉ tiêu Nghị quyết.

Chăn nuôi từng bước phát triển theo hướng công nghiệp, bán công nghiệp, đàn heo, đàn bò và đàn gia cầm phát triển ổn định. Công tác thú y, kiểm soát giết mổ gia súc, gia cầm có tiến bộ hơn.

Công tác lâm nghiệp đã hoàn thành quy hoạch phát triển rừng, khoanh giữ ổn định 6.077ha (trong đó: rừng phòng hộ 2.351 ha, rừng sản xuất 3.726 ha), đưa ra khỏi 3 loại rừng 2.055ha để chuyển sang đất nông nghiệp. Thực hiện tốt công tác bảo vệ, chống cháy rừng; tỷ lệ che phủ ổn định 58%.

Chương trình mục tiêu quốc gia “Xây dựng Nông thôn mới” được triển khai đồng bộ và quyết liệt, bằng nhiều biện pháp tích cực nên đến nay đã có 03 xã được UBND tỉnh công nhận đạt chuẩn Nông thôn mới (Mê Pu, Sùng Nhơn và Đức Hạnh), tăng 02 xã so với chỉ tiêu Nghị quyết.

1.2- Sản xuất công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp

Đã tập trung rà soát, sắp xếp hoạt động các cụm công nghiệp, làng nghề hợp lý hơn, số lượng doanh nghiệp và cơ sở sản xuất ổn định, trong đó công nghiệp chế biến chiếm trên 25%. Tiếp tục thu hút đầu tư mới, mở rộng quy mô sản xuất, áp dụng công nghệ sản xuất hiện đại, đầu tư vào một số ngành lợi thế như: chế biến thức ăn gia súc, mủ cao su, tinh bột mỳ, lương thực, vật liệu xây dựng; một số nhà máy có quy mô lớn, công nghệ sản xuất hiện đại đã đi vào hoạt động có hiệu quả (1).

Ngành nghề nông thôn như: chế biến nhân hạt điều, hạt sen, gia công thủ công mỹ nghệ tiếp tục được duy trì và phát triển, đã giải quyết và tận dụng được lượng lớn thời gian lao động nhàn rỗi ở nông thôn và giúp tăng thêm thu nhập cho người lao động. Công tác khuyến công được quan tâm, tạo điều kiện cho doanh nghiệp trong việc chuyển đổi, tiếp cận với công nghệ sản xuất mới.

1.3- Thương mại, dịch vụ

Ngành dịch vụ - thương mại phát triển khá tốt, đáp ứng được nhu cầu sản xuất và tiêu dùng của nhân dân. Mạng lưới dịch vụ, thương mại được mở rộng. Kết cấu hạ tầng thương mại được đầu tư phát triển, bằng nguồn vốn huy động của tiểu thương để nâng cấp chợ Đức Tài, MêPu, xây mới các chợ Đông Hà, Đức Hạnh và Tân Hà.

Chất lượng dịch vụ vận tải được nâng lên đáng kể, đáp ứng được nhu cầu vận chuyển hàng hóa và đi lại trong nhân dân. Lưới điện quốc gia được phủ kín tất cả các địa bàn dân cư, tỷ lệ hộ sử dụng điện an toàn đạt 98%. Hệ thống cấp nước sạch được tiếp tục đầu tư mở rộng đến khu vực bắc sông, đưa số hộ gia đình sử dụng nước sạch lên gần 1.000 hộ/1.200m3/ngày. Dịch vụ viễn thông phát triển khá và đa dạng các loại hình như: điện thoại cố định, di động, internet, truyền hình cáp, truyền hình số; hệ thống cáp viễn thông được kết nối toàn huyện (2). Nhiều cơ quan, doanh nghiệp đã ứng dụng có hiệu quả công nghệ thông tin để khai thác tài nguyên dữ liệu. Các loại dịch vụ khác như: tài chính, ngân hàng, bảo hiểm, y tế, giáo dục có bước phát triển khá, đáp ứng nhu cầu đời sống ngày càng cao của nhân dân.

1.4- Công tác quy hoạch và đầu tư phát triển

Công tác quy hoạch và quản lý quy hoạch được triển khai thực hiện và đáp ứng yêu cầu cho đầu tư phát triển kinh tế - xã hội của huyện.

Tổng vốn đầu tư giai đoạn 2010 - 2015 là 6.730 tỷ đồng, gồm vốn ngân sách nhà nước 2.800 tỷ đồng, chiếm tỷ lệ 41,6%, vốn huy động doanh nghiệp, nhân dân và các nguồn vốn khác 3.930 tỷ đồng, chiếm 58,4%, tăng gấp 02 lần so với giai đoạn 2006 - 2010, từng bước đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội và bộ mặt nông thôn ở địa phương.

1.5- Công tác quản lý đất đai, khoáng sản, bảo vệ môi trường

Công tác quản lý đất đai có nhiều chuyển biến tích cực. Hoàn thành công tác lập quy hoạch và kế hoạch sử dụng đất (2010 - 2020) và đã tổ chức đo đạc địa chính (theo dự án tổng thể) được 06 xã, thị trấn (3). Công tác cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất được chỉ đạo triển khai đạt kết quả khá. Đến nay, tổng diện tích đất nông nghiệp đã cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất được 34.742 ha, đạt 95,2% so với tổng diện tích đất nông nghiệp, tăng 13,2% so với tổng diện tích đã cấp năm 2010. Trong đó, cấp mới giấy chứng nhận quyền sử dụng đất lần đầu được 2.883 ha, vượt chỉ tiêu Nghị quyết đề ra. Đất ở nông thôn cấp đạt 99,6%, đất ở đô thị cấp đạt 99,2% so với tổng diện tích đất ở, tạo điều kiện thuận lợi cho công tác quản lý và sử dụng đất theo quy hoạch, kế hoạch.

Quản lý tài nguyên, khoáng sản từng bước chặt chẽ hơn. Đã tập trung rà soát, điều chỉnh quy hoạch khoáng sản phù hợp với yêu cầu quản lý. Công tác kiểm tra, kiểm soát việc khai thác, vận chuyển khoáng sản được tăng cường.

Quản lý môi trường được chú trọng. Bằng nhiều biện pháp lồng ghép như hướng dẫn, tuyên truyền, kiểm tra nên việc thực hiện cam kết bảo vệ môi trường của các cơ sở sản xuất ngày một tốt hơn. Các xã đã triển khai thực hiện tốt đề án thu gom rác thải bằng hình thức xã hội hóa, bước đầu mang lại hiệu quả, nhận thức về bảo vệ môi trường của nhân dân từng bước được nâng lên. Đã đầu tư và đưa vào sử dụng bãi rác tập trung của huyện.

1.6- Tài chính - Tín dụng

Công tác thu ngân sách được quan tâm chỉ đạo, tổng thu ngân sách giai đoạn 2011 - 2015 đạt hơn 806 tỷ đồng, tăng 59% so với chỉ tiêu Nghị quyết. Điều hành chi ngân sách được thực hiện đúng Luật Ngân sách, trong đó chi đầu tư phát triển hàng năm đạt từ 8 - 10% so tổng chi ngân sách địa phương.

Hệ thống tín dụng - ngân hàng tiếp tục phát triển, cơ bản đáp ứng được nhu cầu vốn vay cho đầu tư phát triển, sản xuất - kinh doanh của doanh nghiệp và nhân dân, góp phần giảm nghèo, hạn chế nạn cho vay nặng lãi (4).

1.7- Phát triển các thành phần kinh tế

Các thành phần kinh tế tiếp tục phát triển; doanh nghiệp nhà nước hoạt động có hiệu quả. Kinh tế tập thể tiếp tục được duy trì (5). Có 41 trang trại, hầu hết hoạt động có hiệu quả. Kinh tế tư nhân toàn huyện hiện có 150 doanh nghiệp đang hoạt động với tổng vốn kinh doanh hơn 574 tỷ đồng, tăng 31% số doanh nghiệp và tăng 2,1 lần vốn hoạt động so với năm 2010. Kinh tế hộ cá thể phát triển khá nhanh, đến nay có 5.250 hộ kinh doanh cá thể hoạt động trên các lĩnh vực, với số vốn kinh doanh trên 700 tỷ đồng.

2- Về thực hiện nhiệm vụ phát triển văn hóa - xã hội

2.1- Giáo dục và Đào tạo

Chất lượng giáo dục toàn diện các cấp học ngày càng được nâng lên. Công tác phổ cập giáo dục Tiểu học đúng độ tuổi và phổ cập giáo dục THCS tiếp tục giữ vững và nâng được chuẩn; phổ cập giáo dục mầm non cho trẻ 5 tuổi được thực hiện theo đúng kế hoạch đề ra (năm 2015, 13/13 xã, thị trấn đạt chuẩn). Mạng lưới các trường học được sắp xếp lại hợp lý, tạo điều kiện thu hút tối đa trẻ em trong độ tuổi đến trường; cơ sở vật chất, trang thiết bị phục vụ dạy và học được quan tâm đầu tư. Đến nay, toàn huyện có 16/67 trường đạt chuẩn quốc gia, đạt tỷ lệ 23,88%; trên 54% phòng học kiên cố. Chất lượng đội ngũ giáo viên tiếp tục nâng lên cả về chuyên môn nghiệp vụ và lý luận chính trị.

Công tác khuyến học, khuyến tài, đào tạo nghề tiếp tục được quan tâm đã góp phần nâng cao chất lượng nguồn nhân lực phục vụ cho sự phát triển kinh tế - xã hội của địa phương.

2.2- Y tế, dân số

Công tác bảo vệ, chăm sóc sức khỏe của nhân dân luôn được chú trọng. Chất lượng khám và điều trị bệnh ngày càng được nâng lên; các loại dịch bệnh được kiểm soát chặt chẽ, không để lây lan. Cơ sở vật chất và trang thiết bị của ngành Y tế từng bước được đầu tư đáp ứng tốt hơn nhu cầu khám và điều trị. Đội ngũ thầy thuốc có bước phát triển cả về số lượng và chất lượng. Các chương trình y tế quốc gia được triển khai thực hiện có hiệu quả. Công tác y tế dự phòng được quan tâm thường xuyên, hàng năm trên 95% trẻ em dưới 01 tuổi được tiêm ngừa đủ 08 bệnh trong chương trình tiêm chủng mở rộng. Tỷ lệ trẻ em dưới 05 tuổi suy dinh dưỡng giảm xuống dưới 9,5%, vượt 3% so với chỉ tiêu Nghị quyết. Công tác xã hội hóa các hoạt động y tế được triển khai tích cực, góp phần đa dạng hóa các loại hình dịch vụ phục vụ công tác chăm sóc sức khỏe của nhân dân. Có 08/13 xã, thị trấn đạt chuẩn Quốc gia về y tế. Các hoạt động về bảo hiểm y tế thực hiện có hiệu quả. Công tác quản lý nhà nước trên lĩnh vực hành nghề y dược tư nhân được tăng cường.

Công tác dân số kế hoạch hóa gia đình tiếp tục được đẩy mạnh, tỷ lệ giảm sinh bình quân hàng năm 0,04%, đạt chỉ tiêu Nghị quyết đề ra, chất lượng dân số từng bước được nâng lên.

2.3- Văn hóa, thông tin, thể dục, thể thao

Hoạt động văn hóa, văn nghệ, thông tin, thể dục, thể thao ngày càng phát triển, bám sát nhiệm vụ chính trị và hướng mạnh về cơ sở; các thiết chế văn hóa, thể thao từng bước được quan tâm đầu tư, đáp ứng ngày càng tốt hơn nhu cầu hưởng thụ văn hóa và rèn luyện của nhân dân. Hệ thống đài truyền thanh - tiếp phát truyền hình của huyện và trạm tiếp phát sóng truyền thanh của các xã, thị trấn tiếp tục được đầu tư nâng cấp, cơ bản đáp ứng nhu cầu nghe, nhìn của nhân dân. Phong trào “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa” được mở rộng trên tất cả các địa bàn dân cư và từng bước đi vào chiều sâu (6). Công tác xã hội hóa các hoạt động vui chơi, giải trí, thể thao được đẩy mạnh và đạt kết quả tích cực.

2.4- Thực hiện các chính sách xã hội và giải quyết việc làm

Các chính sách đền ơn đáp nghĩa và an sinh xã hội được thực hiện kịp thời và đúng quy định (7). Công tác giảm nghèo đạt kết quả đề ra, tỷ lệ hộ nghèo giảm xuống còn 4,76%; tình trạng tái nghèo giảm đáng kể. Đã triển khai nhiều giải pháp tích cực để giải quyết việc làm cho người lao động; trong 05 năm, đã giải quyết việc làm cho 20.614 lao động, vượt 1.614 lao động so với chỉ tiêu Nghị quyết. Công tác đào tạo nghề cho lao động nông thôn được quan tâm bằng nhiều hình thức và từ các nguồn vốn hỗ trợ, nhất là vốn Chương trình mục tiêu đào tạo nghề, đã đào tạo nghề được 4.252 lao động, đạt 103% so với chỉ tiêu Nghị quyết.

Triển khai thực hiện tốt các chương trình mục tiêu quốc gia như Chương trình 134 của Chính phủ và Nghị quyết 04 của Tỉnh ủy về phát triển dân sinh kinh tế vùng đồng bào dân tộc thiểu số đã đem lại hiệu quả thiết thực, cuộc sống của bà con dân tộc thiểu số được chăm lo ngày càng tốt hơn; một bộ phận bà con đã vươn lên thoát nghèo và làm giàu.

3- Củng cố quốc phòng, an ninh, bảo đảm trật tự, an toàn xã hội

Thường xuyên quan tâm giáo dục nhận thức về nhiệm vụ quốc phòng toàn dân gắn với thế trận an ninh nhân dân, nhằm làm cho cán bộ, đảng viên và nhân dân nhận thức rõ hơn âm mưu “diễn biến hoà bình” của các thế lực thù địch; xây dựng quốc phòng và an ninh cả về tiềm lực và thế trận vững chắc; đẩy mạnh nhiệm vụ phát triển kinh tế gắn với củng cố quốc phòng, an ninh và xây dựng hệ thống chính trị từ huyện đến cơ sở thật sự vững mạnh; kịp thời phát hiện, xử lý các vụ việc không để phát sinh thành điểm nóng; công tác an ninh nội bộ, an ninh kinh tế, an ninh nông thôn và an ninh văn hoá tư tưởng được chú trọng; giải quyết có hiệu quả các vụ việc xảy ra, không để xảy ra đột xuất, bị động, bất ngờ; phạm pháp hình sự, các tệ nạn xã hội, tai nạn giao thông từng bước được kiềm chế.

Công tác xây dựng lực lượng vũ trang được quan tâm nên nhìn chung có sự trưởng thành cả về chính trị, tư tưởng, nghiệp vụ, luôn hoàn thành nhiệm vụ được giao. Lực lượng dân quân tự vệ xây dựng luân phiên đảm bảo 1,38% dân số, tỷ lệ đảng viên đạt 19,75/18%; 100% chỉ huy trưởng và phó chỉ huy trưởng quân sự các xã, thị trấn là đảng viên; 80% ban chỉ huy quân sự xã, thị trấn vững mạnh toàn diện. Lực lượng dự bị động viên được quản lý chặt chẽ, đảng viên trong lực lượng dự bị động viên (đã xếp vào đơn vị dự bị động viên) đạt 9,6%. Giao quân hàng năm đạt 100% chỉ tiêu, đảm bảo chất lượng, trong đó tỷ lệ đảng viên nhập ngũ đạt từ 2,5-3%.

Công tác xây dựng lực lượng Công an từ huyện đến xã, thị trấn luôn được quan tâm giáo dục, rèn luyện về bản lĩnh chính trị, phẩm chất đạo đức và chuyên môn nghiệp vụ đáp ứng yêu cầu trong tình hình mới; phong trào toàn dân bảo vệ an ninh Tổ quốc được củng cố và nâng dần chất lượng; công tác đấu tranh phòng chống các loại tội phạm chuyển biến tích cực, nhất là thực hiện mục tiêu “3 giảm” đạt kết quả khá tốt. Tình hình an ninh chính trị được giữ vững, trật tự an toàn xã hội cơ bản ổn định.

4- Xây dựng bộ máy nhà nước

Hoạt động của Hội đồng nhân dân các cấp từng bước được đổi mới. Chất lượng, hiệu quả các kỳ họp được nâng lên; các nghị quyết ban hành ngày càng sát hợp với thực tế của địa phương và triển khai thực hiện có hiệu quả. Hoạt động giám sát, hoạt động chất vấn và trả lời chất vấn, tiếp xúc cử tri và tiếp công dân được cải tiến, chất lượng và hiệu quả dần được nâng lên.

Tổ chức bộ máy các cơ quan hành chính Nhà nước cả huyện và cơ sở luôn được củng cố; phương thức hoạt động từng bước được cải tiến; khả năng nắm bắt, phát hiện, xử lý các tình huống xảy ra trên địa bàn khá tốt. Hiệu lực, hiệu quả quản lý, điều hành ngày một tốt hơn; kỷ luật, kỷ cương hành chính được tăng cường.

Cải cách thủ tục hành chính được đẩy mạnh. Áp dụng rộng rãi cơ chế “một cửa”, và “một cửa liên thông” mang lại hiệu quả. Việc ứng dụng công nghệ thông tin được tăng cường; hầu hết các cơ quan chuyên môn của huyện đều áp dụng hệ thống quản lý chất lượng theo tiêu chuẩn ISO 9001:2008. Công tác thanh tra, kiểm tra công vụ được tăng cường, góp phần đổi mới, phong cách, phương pháp làm việc, kỷ cương công vụ, trách nhiệm và ý thức chấp hành của cán bộ, công chức, viên chức ngày một nâng lên.

Công tác cải cách tư pháp được triển khai đồng bộ. Bộ máy và đội ngũ cán bộ tư pháp được bổ sung và kiện toàn; công tác đào tạo, bồi dưỡng nghiệp vụ và lý luận chính trị được quan tâm; cơ sở vật chất của các ngành được đầu tư nâng cấp. Chất lượng điều tra, truy tố, xét xử và thi hành án ngày càng được nâng cao.

Công tác tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật được đẩy mạnh, ý thức chấp hành pháp luật của nhân dân được nâng lên đáng kể. Công tác tiếp công dân và giải quyết đơn, thư khiếu nại, tố cáo của công dân được chú trọng.

5- Công tác lãnh đạo, chỉ đạo đấu tranh phòng, chống tham nhũng, lãng phí

Tiếp tục thực hiện Nghị quyết Trung ương 3 (khóa X) và Chương trình hành động số 02-NQ/TU của Tỉnh ủy (khóa XI), Thông báo kết luận số 154-TB/TU, ngày 03/11/2011 của Ban Thường vụ Tỉnh ủy; Huyện uỷ đã tập trung quán triệt, triển khai và tổ chức thực hiện nghiêm túc công tác phòng, chống tham nhũng; thực hành tiết kiệm, chống lãng phí trên. Nhận thức, trách nhiệm của cấp ủy, chính quyền, người đứng đầu cơ quan, đơn vị, của đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức chuyển biến khá rõ nét. Các giải pháp để thực hiện công tác phòng, chống tham nhũng, lãng phí được triển khai thực hiện khá đồng bộ; công tác thanh tra, kiểm tra, phòng ngừa, phát hiện tham nhũng được tăng cường, nhất là ở những lĩnh vực, khâu công việc nhạy cảm dễ phát sinh tham nhũng... Nhờ đó, kết quả thực hiện công tác phòng, chống tham nhũng, lãng phí chuyển biến tích cực; những vụ việc tiêu cực, tham nhũng xảy ra đều được chỉ đạo tập trung làm rõ và xử lý kiên quyết, góp phần ngăn chặn các hành vi tham nhũng, lãng phí, giữ vững ổn định chính trị, trật tự an toàn xã hội và thúc đẩy kinh tế - xã hội địa phương phát triển.

6- Phát huy sức mạnh khối đại đoàn kết toàn dân tộc và đổi mới phương thức hoạt động của Mặt trận và các đoàn thể

Công tác dân vận của hệ thống chính trị từng bước được đổi mới. Khối đại đoàn kết toàn dân thường xuyên được củng cố. Vai trò của Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể được phát huy ngày càng tốt hơn; nội dung, phương thức hoạt động tiếp tục được đổi mới, chất lượng hoạt động từng bước được nâng lên. Thông qua triển khai thực hiện quy chế dân chủ ở cơ sở, phong trào “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa”, trách nhiệm đối với cộng đồng và quyền làm chủ của nhân dân được phát huy; huy động được nhiều nguồn lực cộng đồng chăm lo đời sống nhân dân, cho đầu tư phát triển, nhất là trong phong trào thi đua “Chung sức, chung lòng xây dựng nông thôn mới”, làm đường giao thông nông thôn, làm thủy lợi nhỏ, ánh sáng an ninh...; tình làng nghĩa xóm được tăng cường.

Phong trào thi đua “Dân vận khéo” gắn với tăng cường công tác dân vận chính quyền đạt được nhiều kết quả quan trọng. Việc tập hợp, vận động đoàn kết rộng rãi các tầng lớp nhân dân, đại diện cho quyền và lợi ích hợp pháp của nhân dân, đưa các chủ trương, chính sách, pháp luật của nhà nước và các chương trình phát triển kinh tế, văn hoá - xã hội vào cuộc sống. Mối quan hệ giữa Đảng, Nhà nước, Mặt trận, các đoàn thể với nhân dân ngày càng gắn bó, lòng tin của nhân dân đối với sự lãnh đạo của Đảng được củng cố và nâng lên. Chính sách về tín ngưỡng, tôn giáo, dân tộc được tuyên truyền sâu rộng đến các tầng lớp nhân dân.

7- Công tác xây dựng Đảng

7.1- Công tác chính trị, tư tưởng

Công tác chính trị, tư tưởng luôn được quan tâm chỉ đạo thường xuyên. Việc học tập nâng cao nhận thức về Chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, các chỉ thị, nghị quyết của Đảng, pháp luật của Nhà nước cho cán bộ, đảng viên và tuyên truyền, phổ biến rộng rãi trong nhân dân được thực hiện kịp thời, có hiệu quả; công tác bồi dưỡng lý luận chính trị, quản lý nhà nước, chuyên môn nghiệp vụ công tác Đảng, Mặt trận và các đoàn thể được thực hiện khá tốt, góp phần xây dựng đội ngũ cán bộ, nâng cao chất lượng hoạt động của hệ thống chính trị cơ sở. Công tác giáo dục, đấu tranh, phòng ngừa suy thoái về tư tưởng, chính trị, phẩm chất đạo đức, lối sống được chú trọng. Chủ động nắm bắt tình hình tư tưởng, dư luận xã hội và xử lý kịp thời những vấn đề nổi cộm, bức xúc mà xã hội quan tâm, tăng cường sự thống nhất tư tưởng trong Đảng, sự đồng thuận trong nhân dân.

7.2- Công tác tổ chức và cán bộ

Công tác sắp xếp, kiện toàn các cơ quan tham mưu của cấp ủy từ huyện đến cơ sở được quan tâm. Các loại hình tổ chức cơ sở đảng tiếp tục được sắp xếp, củng cố, xác định rõ hơn chức năng, nhiệm vụ phù hợp với yêu cầu mới gắn với việc nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của tổ chức cơ sở đảng; hệ thống chính trị cơ sở ngày càng được củng cố. Trong nhiệm kỳ đã thành lập được 03 tổ chức đảng trong các doanh nghiệp ngoài khu vực Nhà nước, xóa được địa bàn dân cư trắng tổ chức đảng. Toàn đảng bộ đến nay có 32 tổ chức cơ sở đảng trực thuộc, 229 chi bộ trực thuộc đảng ủy cơ sở và 2.436 đảng viên.

Đội ngũ đảng viên ngày càng tăng về số lượng, chất lượng và trẻ hoá; đa số đảng viên có bản lĩnh chính trị vững vàng, phẩm chất đạo đức tốt, phát huy vai trò tiền phong gương mẫu trong công tác và sinh hoạt ở cơ sở, giữ mối quan hệ mật thiết với nhân dân. Công tác phát triển đảng viên mới đã kết nạp được 650/600 đồng chí, vượt 8% chỉ tiêu Nghị quyết.

Công tác tổ chức, cán bộ có chuyển biến tích cực; các khâu của công tác cán bộ thực hiện chặt chẽ. Công tác luân chuyển cán bộ được quan tâm, cán bộ đã phát huy được vị trí công tác nơi luân chuyển đến và sau khi về nhận nhiệm vụ mới; công tác điều động, bổ nhiệm giới thiệu nhân sự ứng cử, bố trí và sử dụng cán bộ được thực hiện đúng quy định, đảm bảo nguyên tắc Đảng thống nhất lãnh đạo. Đội ngũ cán bộ lãnh đạo quản lý từng bước được trẻ hóa, cán bộ nữ được quan tâm; chú trọng đào tạo, bồi dưỡng cả trình độ chính trị và chuyên môn nghiệp vụ đáp ứng được yêu cầu nhiệm vụ trong tình hình mới; phần lớn đội ngũ cán bộ được đào tạo đủ chuẩn theo yêu cầu Nghị quyết Trung ương 5; các chính sách đối với cán bộ, đảng viên được thực hiện tốt, phù hợp với điều kiện địa phương. Công tác bảo vệ chính trị nội bộ được thực hiện chặt chẽ.

7.3- Công tác kiểm tra, giám sát của Đảng

Hàng năm các cấp uỷ đảng xây dựng chương trình, kế hoạch kiểm tra, giám sát việc chấp hành các chỉ thị, nghị quyết, Điều lệ Đảng trong các tổ chức Đảng và đảng viên; trong công tác kiểm tra, giám sát ngày càng coi trọng đi sâu vào những lĩnh vực nhạy cảm, phức tạp dễ phát sinh tiêu cực; phương pháp kiểm tra được đổi mới theo hướng đi vào những vụ việc cụ thể, thiết thực. Qua kiểm tra, giám sát đã củng cố và tăng cường trách nhiệm của các cấp, các ngành đẩy mạnh thực hiện nhiệm vụ chính trị của mình và góp phần giáo dục, nâng cao phẩm chất đạo đức, năng lực của đội ngũ cán bộ, đảng viên; việc xử lý tổ chức Đảng và đảng viên sai phạm được tiến hành cơ bản đảm bảo đúng phương hướng, phương châm, thẩm quyền và thủ tục quy định của Điều lệ Đảng. Kịp thời phát huy những ưu điểm, đồng thời uốn nắn những sai sót, lệch lạc của các tổ chức, cá nhân thuộc đối tượng kiểm tra, giám sát; góp phần giữ vững kỷ luật, kỷ cương trong Đảng; ý thức chấp hành, rèn luyện của cán bộ, đảng viên được nâng lên.

7.4- Thực hiện Nghị quyết Trung ương 4 (Khóa XI) “một số vấn đề cấp bách về xây dựng Đảng hiện nay”

Nghị quyết Trung ương 4 (khóa XI) đã được triển khai khẩn trương và nghiêm túc gắn chặt với tiếp tục đẩy mạnh việc “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh” trên cơ sở nắm vững yêu cầu, phương châm chỉ đạo của Trung ương, Tỉnh ủy và hướng dẫn của các cơ quan chức năng.

Việc tổ chức quán triệt, học tập được tiến hành kịp thời; nội dung các kế hoạch triển khai được xây dựng cụ thể, rõ ràng về nhiệm vụ và trách nhiệm của các cơ quan chức năng; bám sát các yêu cầu của Nghị quyết Trung ương 4 (khóa XI) và đặc điểm, tình hình cụ thể của Đảng bộ huyện. Việc chuẩn bị và tổ chức kiểm điểm được tiến hành chu đáo, chặt chẽ với tinh thần cầu thị, nghiêm túc tự phê bình và phê bình trên cơ sở các nguyên tắc tổ chức và sinh hoạt Đảng, kết quả thực hiện đạt yêu cầu đề ra. Sau kiểm điểm đã xây dựng kế hoạch, giải pháp để khắc phục những yếu kém, khuyết điểm tồn tại và tập trung triển khai thực hiện có kết quả; tổ chức thông báo công khai kết quả kiểm điểm, trực tiếp tiếp thu, trả lời những vấn đề do tổ chức và cá nhân góp ý đối với tập thể và cá nhân các đồng chí Ủy viên Ban Thường vụ cấp ủy. Nhờ triển khai khá đồng bộ các biện pháp tổng hợp nêu trên nên nhìn chung tình hình các mặt chuyển biến khá rõ; công tác quản lý cán bộ, đảng viên chặt chẽ hơn; vai trò của tổ chức Đảng và người đứng đầu các cấp phát huy tốt hơn; tinh thần đấu tranh, xây dựng nội bộ, các nguyên tắc tổ chức và sinh hoạt Đảng được giữ nghiêm. Đến nay, những khuyến điểm, hạn chế đã được Ban Thường vụ Huyện ủy nêu ra sau kiểm điểm cơ bản đã được khắc phục xong.

II- NHỮNG HẠN CHẾ, YẾU KÉM

1- Trên lĩnh vực kinh tế

Chuyển dịch cơ cấu kinh tế còn chậm. Tỷ trọng chăn nuôi trong cơ cấu nội bộ ngành nông nghiệp còn thấp; một số cây trồng, con nuôi, nuôi trồng thủy sản thực hiện không đạt chỉ tiêu Nghị quyết. Kinh tế hợp tác và hợp tác xã phát triển chậm, hoạt động hợp tác xã còn lúng túng và yếu kém chưa được khắc phục kịp thời.

Tăng trưởng trong ngành công nghiệp còn thấp, thu hút đầu tư mới vào huyện chưa nhiều; hoạt động của một số doanh nghiệp nhỏ còn khó khăn, hiệu quả thấp. Kết cấu hạ tầng trong các cụm công nghiệp chưa được đầu tư đúng mức. Phát triển tiểu thủ công nghiệp và các ngành nghề truyền thống còn hạn chế.

Công tác lập và điều chỉnh quy hoạch trên một số lĩnh vực còn chậm, ảnh hưởng đến quản lý nhà nước.

Thu ngân sách đạt kế hoạch đề ra, nhưng thu cân đối ngân sách huyện không ổn định nên việc cân đối chi ngân sách còn nhiều khó khăn.

Quản lý tài nguyên, khoáng sản, môi trường còn nhiều hạn chế.

2- Trên lĩnh vực văn hoá - xã hội

Chất lượng giáo dục chưa đều; xây dựng trường đạt chuẩn quốc gia chưa đạt kế hoạch đề ra. Công tác giảm nghèo chưa thật vững chắc, nguy cơ tái nghèo còn cao, tỷ lệ lao động được đào tạo nghề còn thấp, lao động thiếu việc làm còn nhiều, đời sống của một số bộ phận nhân dân vẫn còn khó khăn. Đội ngũ cán bộ y tế ở cơ sở còn thiếu, nhất là bác sỹ; công tác quản lý hành nghề y dược tư nhân chưa chặt chẽ. Hoạt động văn hoá, thông tin, thể thao chưa đều. Các thiết chế văn hoá, thể thao còn hạn chế. Chất lượng phong trào “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hoá” chuyển biến chưa nhiều.

3- Quốc phòng - an ninh

Một bộ phận cán bộ, đảng viên và nhân dân nhận thức chưa đầy đủ về ý nghĩa, nội dung, tầm quan trọng trong xây dựng nền quốc phòng toàn dân gắn với thế trận an ninh nhân dân; chưa thực sự gắn kết giữa phát triển kinh tế - xã hội với tăng cường quốc phòng - an ninh. Tình hình trật tự an toàn xã hội có lúc, có nơi còn diễn biến phức tạp; trộm cắp, cờ bạc, ma túy có chiều hướng gia tăng; tai nạn giao thông tuy có giảm nhưng chưa vững chắc.

4- Công tác xây dựng Đảng, chính quyền, Mặt trận và đoàn thể chính trị

Công tác tuyên truyền, phổ biến các chủ trương chính sách của Đảng và pháp luật của Nhà nước trong nhân dân còn hạn chế. Đội ngũ cán bộ, nhất là cán bộ cấp xã, thị trấn một số nơi còn hụt hẫng; tỷ lệ cán bộ trẻ, cán bộ nữ chưa đạt yêu cầu; sức chiến đấu của một số ít tổ chức cơ sở đảng chưa mạnh, chưa phát huy được vai trò của cấp ủy, chi bộ trong việc phân công nhiệm vụ cho đảng viên; nội dung sinh hoạt chi bộ chậm đổi mới, tinh thần tự phê bình và phê bình chưa cao, còn e dè, nể nang, ngại va chạm; phát triển đảng viên mới chưa đồng đều, nhất là ở địa bàn thôn, khu phố. Công tác kiểm tra, giám sát có lúc, có nơi chưa thực hiện thường xuyên. Công tác nắm bắt diễn biến tư tưởng, tâm trạng nhân dân, dư luận xã hội có lúc chưa kịp thời.

Kết quả học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh chưa có sức lan tỏa vững chắc, gương điển hình chưa nhiều; tinh thần trách nhiệm, ý thức tu dưỡng rèn luyện đạo đức của một bộ phận cán bộ, đảng viên chuyển biến chậm. Sự chuyển biến qua kiểm điểm theo tinh thần Nghị quyết Trung ương 4 (khóa XI) chưa đều khắp; một số yếu kém, khuyết điểm được chỉ ra qua đợt kiểm điểm khắc phục chậm.

Chất lượng giám sát của Hội đồng nhân dân và Đại biểu Hội đồng nhân dân, nhất là cấp cơ sở hiệu quả còn thấp. Năng lực quản lý, điều hành của bộ máy chính quyền còn một số mặt chưa theo kịp với yêu cầu. Công tác cải cách thủ tục hành chính còn chậm; một bộ phận cán bộ, công chức, viên chức còn yếu về chuyên môn nghiệp vụ và trách nhiệm giải quyết công việc; tình trạng quan liêu, tham nhũng, lãng phí, tiêu cực vẫn còn xảy ra một số nơi.

Phong trào hành động cách mạng của quần chúng phát triển chưa đều; việc đổi mới nội dung và phương thức hoạt động của Mặt trận và các đoàn thể chuyển biến chưa mạnh, từng nơi, từng lúc còn biểu hiện nặng hành chính. Thực hiện chức năng tham gia xây dựng Đảng, chính quyền, giám sát và phản biện xã hội còn lúng túng, hiệu quả còn thấp; công tác xây dựng lực lượng cốt cán chính trị chất lượng chưa cao.

III- ĐÁNH GIÁ TỔNG QUÁT VÀ MỘT SỐ KINH NGHIỆM

Năm năm qua, Đảng bộ và nhân dân huyện nhà đã nỗ lực vượt qua nhiều khó khăn, thách thức, đã đoàn kết nỗ lực, phấn đấu thực hiện Nghị quyết Đại hội đại biểu Đảng bộ huyện lần thứ X đạt kết quả khá toàn diện, đạt và vượt hầu hết các chỉ tiêu Nghị quyết. Nền kinh tế huyện nhà tiếp tục phát triển đúng hướng. Kết cấu hạ tầng được chú trọng; các nguồn lực đầu tư phát triển tăng lên đáng kể. Các hoạt động văn hóa - xã hội có những chuyển biến tiến bộ; đời sống của nhân dân ổn định và từng bước cải thiện; các đối tượng chính sách, người nghèo được chăm lo tốt hơn; bộ mặt xã hội từng bước được khởi sắc. Quốc phòng - an ninh được giữ vững. Dân chủ xã hội chủ nghĩa được phát huy; phong trào cách mạng của quần chúng được duy trì và phát triển. Hệ thống chính trị tiếp tục được củng cố và tăng cường; cải cách hành chính được đẩy mạnh. Năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của tổ chức Đảng từng bước được nâng cao. Việc học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh được triển khai thực hiện và có bước chuyển biến tích cực. Nghiêm túc triển khai việc tự phê bình và phê bình theo tinh thần Nghị quyết Trung ương 4 (khóa XI) “Một số vấn đề cấp bách về xây dựng Đảng hiện nay”; những khuyết điểm, yếu kém trong lãnh đạo, chỉ đạo của các cấp ủy được chỉ ra qua kiểm điểm Nghị quyết Trung ương 4 (khóa XI) được khắc phục có kết quả; những vấn đề bức xúc, nổi cộm được tập trung chỉ đạo và khắc phục cơ bản. Chất lượng đội ngũ cán bộ, đảng viên được nâng lên; nội bộ đoàn kết, thống nhất tư tưởng và hành động, tạo sự đồng thuận cao trong xã hội.

Đạt được kết quả trên, bên cạnh sự quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo và giúp đỡ của Tỉnh; cấp ủy, chính quyền từ huyện đến cơ sở đã có nhiều cố gắng trong nghiên cứu, vận dụng các chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước; đã chấp hành, triển khai nghị quyết, chỉ thị cấp trên nghiêm túc và kịp thời, đề ra những nhiệm vụ, giải pháp tương đối sát hợp với thực tiễn tình hình của huyện; sự nỗ lực, cố gắng trong điều hành, quản lý của chính quyền các cấp và sự quyết tâm, phấn đấu của cán bộ, đảng viên và các tầng lớp nhân dân huyện nhà.

Tuy nhiên, tình hình kinh tế - xã hội chưa có sự bứt phá mạnh mẽ; tốc độ phát triển kinh tế chưa tương xứng với tiềm năng của huyện; hiệu quả chuyển đổi cơ cấu trong nông nghiệp chưa vững chắc; tích lũy từ nội bộ còn thấp; kết cấu hạ tầng chưa đồng bộ, nhất là giao thông nội đồng, hệ thống thủy lợi, các cụm công nghiệp. Đời sống một bộ phận dân cư còn khó khăn; lao động, việc làm chưa giải quyết cơ bản. Tệ nạn xã hội, nhất là ma túy, cờ bạc có xu hướng tăng, tình hình trật tự an toàn xã hội có nơi, có lúc còn diễn biến phức tạp; giảm tai nạn giao thông chưa vững chắc.

Tình hình trên, ngoài sự tác động ảnh hưởng của tình hình suy thoái kinh tế; thời tiết, dịch bệnh diễn biến phức tạp. Song, nguyên nhân chủ yếu là do nhận thức, quán triệt các chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước trong các cấp, các ngành chưa linh hoạt, sáng tạo; công tác quản lý, điều hành của chính quyền các cấp trong huyện và vai trò tham mưu của các ngành trên một số mặt còn thụ động; một bộ phận cán bộ, công chức, viên chức năng lực, trách nhiệm, phong cách làm việc, phẩm chất đạo đức còn yếu, chưa thật sự đáp ứng yêu cầu công việc.

Từ thực tiễn chỉ đạo thực hiện Nghị quyết Đại hội Đảng bộ huyện lần thứ X, trong 05 năm qua rút ra một số kinh nghiệm sau:

1- Trong lãnh đạo, chỉ đạo, điều hành phải nắm vững nghị quyết và vận dụng sáng tạo các quan điểm, chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước; đồng thời bám sát tình hình thực tế của địa phương. Trong quá trình thực hiện, cấp ủy và người đứng đầu phải có sự quyết tâm cao; tập trung sức để lãnh đạo.

2- Quá trình tổ chức triển khai thực hiện phải vừa bảo đảm tính toàn diện; đồng thời, cần tập trung dồn sức vào những nhiệm vụ trọng tâm, không dàn trải; kịp thời tháo gỡ những khó khăn, vướng mắc; tăng cường đúng mức công tác kiểm tra, giám sát của cấp ủy gắn với hoạt động giám sát của HĐND, Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể nhân dân các cấp. Kịp thời tranh thủ sự hỗ trợ giúp đỡ của cấp trên về nguồn lực để phát triển.

3- Thường xuyên coi trọng công tác xây dựng Đảng trên cả 03 mặt: chính trị, tư tưởng và tổ chức; quan tâm công tác đào tạo, bồi dưỡng nâng cao trình độ cho cán bộ về mọi mặt, bố trí đúng cán bộ; kiên quyết và kịp thời xử lý cán bộ vi phạm kỷ luật và pháp luật; giữ vững khối đoàn kết, nhất trí nội bộ.

4- Phải xây dựng và phát huy khối đại đoàn kết toàn dân, tạo sự đồng thuận cao trong các tầng lớp nhân dân, đẩy mạnh các phong trào thi đua yêu nước, tập trung xây dựng và nhân rộng các mô hình, điển hình tiên tiến ở từng cơ quan, đơn vị và từng địa bàn dân cư trong huyện.

 

PHẦN THỨ HAI

MỤC TIÊU, NHIỆM VỤ PHÁT TRIỂN 05 NĂM (2015 - 2020)

Năm năm đến, bên cạnh những thuận lợi đó là: tiềm năng và lợi thế của huyện còn lớn; những kết quả đạt được và những kinh nghiệm tích lũy trong nhiệm kỳ qua. Tuy nhiên, những tồn tại, yếu kém của huyện có mặt chưa thể khắc phục trong thời gian ngắn; một số vấn đề bức xúc của xã hội chưa được giải quyết một cách căn bản; thời tiết, dịch bệnh diễn biến phức tạp, giá cả thị trường biến động; kết cấu hạ tầng chưa đồng bộ; tình hình an ninh trật tự còn tiềm ẩn những yếu tố khó lường... sẽ ảnh hưởng không nhỏ đến phát triển kinh tế - xã hội trong thời gian tới. Tình hình đó, đòi hỏi Đảng bộ và nhân dân huyện nhà phải nỗ lực, phấn đấu, quyết tâm không ngừng, phát huy thuận lợi, khắc phục những khó khăn, thách thức, phấn đấu đưa huyện nhà phát triển nhanh và vững chắc hơn.

I- MỤC TIÊU, NHIỆM VỤ VÀ GIẢI PHÁP

1- Mục tiêu chung

Ra sức xây dựng tổ chức Đảng trong sạch, vững mạnh, nâng cao hiệu lực quản lý, điều hành của Nhà nước; phát huy sức mạnh của khối đại đoàn kết toàn dân; huy động tối đa các nguồn lực, thúc đẩy kinh tế huyện nhà phát triển nhanh và bền vững; nâng cao đời sống của nhân dân; an ninh chính trị và trật tự an toàn xã hội được giữ vững, quốc phòng được tăng cường, tạo chuyển biến rõ nét, toàn diện và vững chắc tình hình các mặt của huyện.

2- Một số chỉ tiêu chủ yếu

- Tổng sản lượng lương thực đến năm 2020: 125.000 tấn.

- Tỷ lệ tăng thu ngân sách bình quân hằng năm: 7%.

- Tỷ lệ giảm sinh hằng năm: 0,02%.

- Tỷ lệ giảm hộ nghèo hàng năm: 1,8-2%.

- Số việc làm giải quyết hàng năm: 4.000 lao động.

- Tỷ lệ hộ được dùng nước hợp vệ sinh: 95%.

- Tỷ lệ số hộ sử dụng điện: 99%.

- Số xã, thị trấn đạt bộ tiêu chí quốc gia về y tế: 13/13 xã, thị trấn.

- Tỷ lệ huy động học sinh Mẫu giáo đến trường: 85%.

Trong đó: Trẻ 05 tuổi đạt 100%.

- Tỷ lệ trẻ em dưới 05 tuổi SDD giảm còn: 7%.

- Tỷ lệ che phủ của rừng: 58%.

- Giữ vững sự ổn định chính trị và đảm bảo trật tự an toàn xã hội ở địa phương; giao quân hằng năm đạt 100% chỉ tiêu; xây dựng lực lượng dân quân tự vệ đạt 1,38% so với dân số, phấn đấu đạt tỷ lệ đảng viên trong dân quân tự vệ là 20%, tỷ lệ đảng viên trong lực lượng dự bị động viên là 9,5%.

- Xây dựng cơ sở đảng trong sạch vững mạnh đạt trên 50%; kết nạp 650 đảng viên mới; phấn đấu đạt 80% tổ chức Mặt trận và các đoàn thể chính trị vững mạnh, xây dựng cốt cán chính trị đạt tỷ lệ 5% so với tổng số đoàn viên, hội viên.

- Phấn đấu đến năm 2020 huyện đạt chuẩn Nông thôn mới.

II- NHIỆM VỤ VÀ GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN CÁC NGÀNH, LĨNH VỰC

1- Trên lĩnh vực kinh tế

1.1- Phát triển sản xuất nông nghiệp và kinh tế nông thôn

Tổ chức thực hiện tốt đề án tái cơ cấu ngành nông nghiệp; đẩy mạnh chuyển dịch cơ cấu nội bộ ngành, đưa tỷ trọng ngành chăn nuôi lên 30%, dịch vụ nông nghiệp 10% và ngành trồng trọt 60%, trong đó tập trung phát triển những cây trồng, con nuôi lợi thế là cây lúa, cây bắp, cây cao su, cây tiêu, cây điều, con heo và con bò. Chú trọng công tác quy hoạch ngành.

Đối với cây lúa, cây bắp, sử dụng đất linh hoạt trên cơ sở quy hoạch được duyệt, đến năm 2020 ổn định diện tích canh tác 8.600 ha, diện tích gieo trồng 18.850 ha; diện tích gieo trồng cây bắp là 2.720 ha. Quy hoạch dần các vùng chức năng, như vùng sản xuất giống, vùng lúa, bắp chất lượng cao; cải tạo lại bộ giống, ứng dụng các kỹ thuật tiến bộ vào sản xuất, phòng trừ dịch hại và công nghệ sau thu hoạch, giảm giá thành, năng suất tăng, nâng cao sức cạnh tranh của mặt hàng lương thực.

Đối với cây cao su, giữ ổn định diện tích hiện có là 12.400 ha, tập trung cải tạo lại bộ giống và quy trình thâm canh cho vườn cao su tiểu điền, nhằm tạo ra chất lượng mủ cao, đồng nhất, giúp cho việc chế biến nâng cao được chất lượng sản phẩm, tạo thuận lợi cho đầu ra.

Đối với cây tiêu, tập trung đánh giá lại tính thích nghi trên các loại đất, tuyển chọn các giống tiêu chất lượng cao để nhân giống vô tính; xây dựng mô hình, vườn ươm, chuyển giao các biện pháp kỹ thuật canh tác tổng hợp (ICM) để phát triển bền vững với diện tích 1.500 ha vào năm 2020.

Tăng cường công tác khuyến nông, chuyển giao ứng dụng khoa học công nghệ, phòng chống dịch bệnh trên cây trồng, con nuôi. Trong đó xác định công tác giống và ứng dụng quy trình thâm canh sạch là khâu đột phá trong nông nghiệp. Xây dựng và phát triển các mô hình sản xuất tiên tiến, chú trọng xây dựng và mở rộng mô hình “cánh đồng lớn” gắn với liên doanh, liên kết, hướng đến chuỗi giá trị trong sản xuất nông sản hàng hóa. Phấn đấu đưa năng suất bình quân của cây lúa lên 56 tạ/ha, cây bắp 80 tạ/ha, thu nhập bình quân đạt 50 triệu đồng/ha/năm.

Tập trung hoàn thiện hệ thống kênh mương thủy lợi, tận dụng tối đa hệ thống thủy lợi Tà Pao, các trạm bơm ven sông La Ngà và các nguồn nước khác, nhằm khai thác có hiệu quả quỹ đất, bảo đảm đến năm 2020 nâng năng lực tưới chủ động lên 17.500 ha, góp phần chuyển đổi có hiệu quả 1.800 ha cây trồng hàng năm trên đất lúa, trong đó có 1.300 ha bắp.

Trong chăn nuôi, khuyến khích phát triển nuôi heo theo hướng tập trung, công nghiệp và bán công nghiệp ở những vùng có điều kiện, gắn với bảo vệ môi trường. Phát triển chăn nuôi bò theo hướng thâm canh, ít phụ thuộc vào đồng cỏ tự nhiên. Tổ chức tập huấn tốt cho dân về kỹ thuật chọn giống, quy trình phòng ngừa dịch bệnh, phương pháp chế biến thức ăn, để giúp cho người chăn nuôi đầu tư có hiệu quả, chất lượng đàn giống và thương phẩm cao. Phấn đấu đến năm 2020 đàn heo đạt 150.000 con, đàn bò 10.000 con.

Tiếp tục giữ ổn định 1.150 ha nuôi trồng thủy sản, mở rộng diện tích trồng sen và khai thác tốt mặt nước để nuôi trồng thủy sản.

Tổ chức bảo vệ và phát triển hiệu quả diện tích rừng hiện có; giữ vững và tôn tạo thêm vốn rừng cho 2.351 ha rừng phòng hộ, đồng thời cải tạo 3.726 ha rừng sản xuất theo quy hoạch; làm tốt công tác bảo vệ và phòng chống cháy rừng. Xây dựng và thực hiện tốt các phương án phòng, chống thiên tai - tìm kiếm cứu nạn, các phương án đối phó với biến đổi khí hậu trong phạm vi của huyện.

Đẩy mạnh thực hiện chương trình mục tiêu Quốc gia xây dựng Nông thôn mới thông qua các chương trình lồng ghép và huy động nội lực từ nhân dân. Phấn đấu đến năm 2020 có ít nhất 08 xã đạt chuẩn Nông thôn mới, để huyện được công nhận là huyện đạt chuẩn Nông thôn mới.

1.2- Phát triển công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp

Tiếp tục ưu tiên phát triển công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp có lợi thế về nguồn nguyên liệu, lao động như: Chế biến lương thực, thức ăn gia súc, chế biến mủ cao su, tinh bột mì; may gia công; sản xuất hàng thủ công mỹ nghệ xuất khẩu. Đẩy mạnh công tác xúc tiến đầu tư, khuyến khích phát triển, thu hút một số ngành nghề mới như: sản xuất vật liệu xây dựng không nung, chế biến sản phẩm từ cây bắp, chế biến gỗ từ cây trồng phân tán, rừng trồng… Tiếp tục rà soát tiềm năng, nhu cầu phát triển của các cụm công nghiệp, qua đó tập trung đầu tư kết cấu hạ tầng để thu hút các nhà đầu tư.

Thực hiện tốt chính sách khuyến công và biện pháp trợ giúp cho các cơ sở sản xuất công nghiệp - TTCN như giới thiệu và chuyển giao công nghệ mới, thực hiện các chính sách của Nhà nước về ưu đãi tín dụng, về mặt bằng sản xuất, về thông tin thị trường… khuyến khích các cơ sở sản xuất đổi mới công nghệ, nâng cao năng lực sản xuất của một số sản phẩm lợi thế có khả năng cạnh tranh và xuất khẩu của huyện.

1.3- Phát triển thương mại - dịch vụ

Tạo điều kiện phát triển thị trường nội địa theo hướng đáp ứng nhu cầu đa dạng cho sản xuất và tiêu dùng. Tổ chức thực hiện quy hoạch phát triển mạng lưới chợ trên toàn huyện, kêu gọi đầu tư xây dựng các trung tâm thương mại theo quy hoạch nhằm đáp ứng yêu cầu tiêu thụ hàng hóa. Đẩy mạnh công tác xúc tiến thương mại, thông tin dự báo thị trường; thực hiện tốt các chính sách hỗ trợ đầu tư phát triển dịch vụ.

Tiếp tục nâng cao chất lượng các hoạt động dịch vụ vận tải, đáp ứng yêu cầu vận chuyển hành khách và lưu thông hàng hóa. Phát triển toàn diện hệ thống lưới điện an toàn, mở rộng dịch vụ cung cấp điện, đảm bảo đến năm 2020 đạt 99% hộ sử dụng điện an toàn, đảm bảo nguồn điện phục vụ cho sản xuất kinh doanh. Đầu tư tăng thêm công suất của nhà máy nước hiện có, mở rộng mạng lưới cấp nước cho khu vực Đức Tín, Đức Tài, xây dựng hoàn chỉnh hệ thống cấp nước sạch ở các xã, đáp ứng ngày càng cao nhu cầu sử dụng của người dân.

Phát triển dịch vụ viễn thông, nhất là hệ thống mạng cáp quang, đường truyền Internet để phục vụ cho nhu cầu quản lý, sử dụng cơ sở dữ liệu, truy cập thông tin; phát triển đa dạng các loại hình dịch vụ tin học, tài chính, tín dụng, bảo hiểm, y tế... đáp ứng kịp thời với phát triển kinh tế và nhu cầu đời sống của người dân. Tăng cường kiểm tra, kiểm soát các hoạt động dịch vụ, đảm bảo an toàn thông tin mạng và bí mật Nhà nước.

1.4- Quy hoạch và đầu tư phát triển

Rà soát, bổ sung điều chỉnh các quy hoạch: Quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội cấp huyện, cấp xã, thị trấn và quy hoạch sử dụng đất; quy hoạch xây dựng và các ngành lĩnh vực khác để làm cơ sở cho công tác quản lý đầu tư phát triển.

Huy động các nguồn lực để đầu tư cho phát triển kinh tế - xã hội bằng nhiều nguồn vốn đầu tư: Ngân sách, doanh nghiệp và các nguồn vốn hợp pháp khác. Cơ cấu nguồn vốn đầu tư có tập trung, có trọng điểm như: Giao thông, giáo dục, y tế, thủy lợi, cơ sở vật chất văn hóa. Phấn đấu đến năm 2020 cơ bản hoàn thành đầu tư xây dựng hạ tầng đô thị 02 thị trấn Đức Tài, Võ Xu theo quy hoạch, đề án được duyệt; trên 75% hệ thống giao thông nông thôn, giao thông nội đồng ở các xã, thị trấn được cứng hóa; xây dựng mạng lưới kênh mương thuộc xã, thị trấn quản lý hòa mạng đầy đủ với hệ thống thủy lợi Tà Pao; có kế hoạch để chuẩn bị đầu tư đập tràn tại thác K’reo ở Đức Tín, nhằm khai thác tốt hệ thống bơm điện ở ven sông và nhà máy nước ở Võ Xu, tăng thêm năng lực tưới phục vụ sản xuất, sinh hoạt. Tiếp tục mở rộng đầu tư cơ sở vật chất trường học, trạm y tế, cơ sở vật chất văn hóa ở các xã, thị trấn.

1.5- Quản lý tài nguyên, khoáng sản và bảo vệ môi trường

Hoàn thành việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nông nghiệp; tiếp tục tổ chức cấp giấy chứng nhận QSDĐ, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất cho nhân dân theo đúng quy định. Hoàn thành dự án tổng thể đo đạc địa chính trên 13 xã, thị trấn để đưa vào quản lý và sử dụng. Thực hiện tốt công tác đền bù, giải tỏa, thu hồi đất theo đúng pháp luật về quản lý đất đai.

Tăng cường quản lý nhà nước về tài nguyên khoáng sản và môi trường đúng theo quy định pháp luật; thường xuyên tổ chức kiểm tra, xử lý các hành vi vi phạm trên lĩnh vực khoáng sản và bảo vệ môi trường. Mở rộng địa bàn thu gom rác thải sinh hoạt trong nhân dân. Tranh thủ các nguồn vốn để đầu tư các dự án cải thiện môi trường, nhất là xử lý nguồn chất thải nguy hại và chất thải y tế; đồng thời khuyến khích đầu tư các cơ sở xử lý, chế biến rác thải bằng hình thức xã hội hóa. Đầu tư xây dựng bãi rác tập trung cho 03 xã bắc sông.

1.6- Tài chính - tín dụng

Đẩy mạnh tuyên truyền các quy định của pháp luật về lĩnh vực thuế để người nộp thuế hiểu và thực hiện tốt nghĩa vụ của mình.

Xây dựng kế hoạch thu - chi ngân sách giai đoạn 2016 - 2020, phấn đấu tăng thu bình quân hằng năm trên 7%. Quản lý công tác thu - chi đúng quy định theo kế hoạch được duyệt.

Tăng cường nuôi dưỡng, khai thác các nguồn thu trên địa bàn theo đúng Luật thuế, quản lý thuế và phí, thu đúng, thu đủ và kịp thời các nguồn thu phát sinh trên địa bàn vào ngân sách; tập trung quản lý, khai thác tốt nguồn thu ngoài quốc doanh. Thường xuyên rà soát các khoản thu để có cơ sở kịp thời điều chỉnh dự toán chi ngân sách từng năm cho hợp lý, phù hợp với tình hình thu ngân sách địa phương; đồng thời tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra việc thực hiện chi ngân sách.

Phổ biến những chính sách hỗ trợ, ưu đãi về lãi suất vay vốn của Nhà nước đến người dân và các nhà đầu tư kịp thời, nhằm tạo điều kiện cho vay vốn phát triển sản xuất, kinh doanh; ưu tiên cho vay phát triển sản xuất, kinh doanh, phát triển nông nghiệp, nông thôn và đầu tư phát triển các ngành công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp có thế mạnh ở địa phương. Phát triển tín dụng tập thể, ngăn chặn và đẩy lùi các hoạt động tín dụng “đen” cho vay nặng lãi.

1.7- Ứng dụng khoa học - công nghệ

Khuyến khích mở rộng nghiên cứu, phổ biến, ứng dụng, triển khai và đổi mới công nghệ trong các ngành, lĩnh vực phù hợp với yêu cầu trong từng giai đoạn. Tăng cường đầu tư cho nghiên cứu, ứng dụng khoa học - công nghệ; thực hiện tốt cơ chế, chính sách khuyến khích, tạo môi trường thuận lợi cho các hoạt động khoa học - công nghệ. Khuyến khích hỗ trợ sử dụng công nghệ sạch, an toàn đối với môi trường.

1.8- Phát triển các thành phần kinh tế

Tiếp tục định hướng cho các thành phần kinh tế phát triển và hoạt động có hiệu quả; tạo mọi điều kiện để phát triển kinh tế hợp tác, kinh tế tư nhân, hộ cá thể. Chú trọng củng cố, thành lập mới các hợp tác xã, các tổ hợp tác, liên minh, liên kết hoạt động có hiệu quả theo Luật Hợp tác xã và các quy định của Nhà nước. Đẩy mạnh cải cách thủ tục hành chính, tạo điều kiện thuận lợi để thu hút đầu tư, tạo thuận lợi cho các doanh nghiệp, các trang trại, các hộ kinh doanh cá thể được hưởng những chính sách ưu đãi theo quy định của pháp luật, nhằm khuyến khích mở rộng các hoạt động sản xuất, kinh doanh, dịch vụ mang lại hiệu quả, góp phần giải quyết việc làm tại địa phương.

2- Trên lĩnh vực văn hóa - xã hội

2.1- Giáo dục và đào tạo

Đầu tư xây dựng hệ thống giáo dục mầm non, giáo dục phổ thông theo hướng đồng bộ, hiện đại và chuẩn hóa; nâng cao chất lượng đào tạo nguồn nhân lực. Phấn đấu đến năm 2020, có ít nhất 70% trường đạt chuẩn về cơ sở vật chất và 50% trường đạt chuẩn Quốc gia. Tiếp tục mở rộng và phấn đấu 100% trường tiểu học dạy 02 buổi/ ngày; huy động trẻ 05 tuổi vào mẫu giáo và trẻ 06 tuổi vào lớp 1 đạt 100%; tuyển sinh đầu cấp: tiểu học 96,6 %, THCS 88%, THPT 80%. Bảo đảm đội ngũ giáo viên đủ về số lượng, chuẩn về nghiệp vụ, có phẩm chất đạo đức tốt; có cơ cấu hợp lý; khắc phục sự mất cân đối giữa các giáo viên bộ môn; bồi dưỡng giáo viên Tiếng Anh đạt trình độ chuẩn theo quy định, đáp ứng được yêu cầu dạy và học ở các cấp.

Nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện; chú trọng bồi dưỡng học sinh giỏi, phát triển năng khiếu học sinh, nâng cao tỷ lệ học sinh tốt nghiệp THCS; giảm tỷ lệ học sinh bỏ học hàng năm ít nhất 0,5%. Quan tâm đúng mức đến học sinh đồng bào dân tộc thiểu số và học sinh khuyết tật; giữ vững phổ cập giáo dục, xóa mù chữ và phổ cập mầm non đối với trẻ 05 tuổi. Triển khai đồng bộ việc dạy tin học, ngoại ngữ ở các cấp học; đẩy mạnh ứng dụng CNTT trong dạy và học.

Huy động các nguồn lực trong xã hội để đầu tư phát triển sự nghiệp giáo dục. Thực hiện tốt công tác khuyến học, khuyến tài, xây dựng xã hội học tập; 100% trung tâm học tập cộng đồng hoạt động đồng bộ đạt hiệu quả.

Nâng cao chất lượng hoạt động của Trung tâm dạy nghề, Trung tâm giáo dục thường xuyên và hướng nghiệp.

2.2- Chăm sóc sức khỏe nhân dân và dân số - KHHGĐ

Nâng cao chất lượng khám chữa bệnh ở các tuyến, đặc biệt là tại Bệnh viện Đa khoa khu vực Nam Bình Thuận. Phấn đấu xây dựng Bệnh viện ĐKKV Nam Bình Thuận đến năm 2020 đạt Bệnh viện hạng II; nâng cấp phòng khám đa khoa khu vực Mê Pu lên bệnh viện hạng III (quy mô 100 giường); nâng cấp Phòng khám đa khoa khu vực Trà Tân để đáp ứng ngày càng tốt hơn nhu cầu khám và chữa bệnh cho nhân dân. Tiếp tục tổ chức thực hiện tốt các chương trình mục tiêu Quốc gia về y tế. Tăng cường công tác phòng ngừa dịch bệnh, vệ sinh an toàn thực phẩm. Tiếp tục phấn đấu hàng năm trên 95% trẻ em dưới 01 tuổi được tiêm ngừa đủ 08 bệnh trong chương trình tiêm chủng mở rộng; giảm tỷ lệ trẻ em suy dinh dưỡng dưới 05 tuổi đến năm 2020 còn 7%; số hộ được sử dụng nước hợp vệ sinh đạt 95%; phấn đấu đến năm 2020 đạt và giữ vững 13/13 trạm y tế xã, thị trấn đạt bộ tiêu chí quốc gia về y tế.

Đào tạo thu hút nguồn nhân lực, đặc biệt là bác sỹ về công tác tại các cơ sở y tế trong huyện. Đẩy mạnh kêu gọi đầu tư xã hội hóa trên lĩnh vực y tế. Tiếp tục thực hiện có hiệu quả công tác dân số và kế hoạch hóa gia đình, nhất là ở đồng bào dân tộc thiểu số. Phấn đấu giảm tỷ lệ sinh hằng năm ở mức 0,02%. Nâng cao chất lượng dân số gắn với việc xây dựng gia đình văn hóa.

2.3- Thực hiện chính sách xã hội và giải quyết việc làm

Chú trọng thực hiện tốt chính sách đối với người có công; duy trì và phát huy tốt phong trào đền ơn đáp nghĩa; đảm bảo an sinh xã hội.

Đẩy mạnh thực hiện Chương trình giảm nghèo giai đoạn 2016 - 2020, tạo điều kiện và hỗ trợ về vốn cũng như cơ sở vật chất để phát triển sản xuất; thực hiện tốt các chính sách xã hội tại vùng đồng bào dân tộc thiểu số; tiếp tục thực hiện có hiệu quả chương trình mục tiêu Quốc gia, vốn ngân sách nhà nước, vốn viện trợ để phát triển dân sinh kinh tế một cách toàn diện, đảm bảo giảm nghèo bền vững.

Đẩy mạnh công tác đào tạo nghề, nhất là đào tạo nghề lao động nông thôn, sử dụng có hiệu quả nguồn kinh phí đào tạo nghề nông thôn từ Chương trình mục tiêu Quốc gia để đến năm 2020 tỷ lệ lao động qua đào tạo đạt 52%. Trong đó, đào tạo nghề đạt 35%; đồng thời kết hợp công tác thông tin, dịch vụ giới thiệu việc làm, liên kết với các doanh nghiệp tại địa phương và các vùng lân cận để giải quyết việc làm cho các học viên khi hoàn thành khóa đào tạo, phấn đấu bình quân hàng năm giải quyết việc làm cho 4.000 lao động.

2.4- Văn hóa, thông tin - thể dục, thể thao

Tiếp tục nâng cao hiệu quả hoạt động thông tin tuyên truyền đưa đường lối, chủ trương của Đảng và chính sách, pháp luật của Nhà nước vào đời sống xã hội. Đẩy mạnh và củng cố xây dựng hệ thống thiết chế văn hóa ở cơ sở, nhằm thực hiện tốt việc phục vụ nhiệm vụ chính trị tại địa phương. Đẩy mạnh phong trào toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa. Tranh thủ các nguồn vốn hỗ trợ để đầu tư xây dựng các trung tâm văn hóa xã, các nhà văn hóa thôn, khu phố theo tiêu chí nông thôn mới và đô thị văn minh, đáp ứng nhu cầu hội họp cũng như sinh hoạt văn hóa, văn nghệ của nhân dân. Tăng cường công tác quản lý nhà nước đối với các cơ sở hoạt động kinh doanh, dịch vụ văn hóa. Phấn đấu đến năm 2020 xây dựng hoàn chỉnh trung tâm văn hóa - thể thao huyện.

Đẩy mạnh phong trào thể dục, thể thao toàn dân để nâng cao sức khỏe cộng đồng, kêu gọi thu hút đầu tư các cơ sở hoạt động thể dục, thể thao theo hình thức xã hội hóa; đồng thời chú ý đến công tác tuyển chọn, đào tạo vận động viên thể dục thể thao để tham gia các giải ở tỉnh, khu vực và toàn quốc.

Nâng cao chất lượng hoạt động đài truyền thanh truyền hình huyện, đảm bảo tiếp phát chương trình truyền thanh Trung ương, tỉnh, huyện. Đầu tư nâng cấp chất lượng trạm truyền thanh các xã, thị trấn.

3- Tăng cường quốc phòng, giữ vững an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội

Thực hiện tốt Nghị quyết Trung ương 8 (khóa XI) về chiến lược bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới; tổ chức thực hiện tốt các đề án xây dựng khu vực phòng thủ đã được phê duyệt, xây dựng huyện thành khu vực phòng thủ vững chắc. Phát huy sức mạnh của cả hệ thống chính trị trong thực hiện nhiệm vụ quốc phòng, an ninh; gắn chặt phát triển kinh tế - xã hội với quốc phòng, an ninh; tăng cường sức mạnh quốc phòng, an ninh cả tiềm lực và thế trận. Làm tốt công tác bồi dưỡng giáo dục kiến thức quốc phòng - an ninh nhằm không ngừng nâng cao ý thức cảnh giác trước âm mưu “diễn biễn hoà bình”, bạo loạn lật đỗ của các thế lực thù địch; chống tư tưởng mơ hồ, mất cảnh giác và tình trạng “tự diễn biến” trong cán bộ, đảng viên và nhân dân, giữ vững ổn định chính trị.

Xây dựng lực lượng vũ trang nhân dân vững mạnh toàn diện, đủ về số lượng, đảm bảo về chất lượng chính trị, đạo đức lối sống và trình độ chuyên môn nghiệp vụ. Chỉ đạo chặt chẽ công tác tuyển chọn và gọi công dân nhập ngũ hàng năm. Tổ chức đăng ký và quản lý chặt chẽ lực lượng dự bị động viên; thực hiện tốt chính sách hậu phương quân đội.

Triển khai đồng bộ và có hiệu quả các biện pháp bảo đảm giữ vững an ninh chính trị và đảm bảo trật tự an toàn xã hội; làm tốt công tác nắm tình hình, phát hiện và xử lý có hiệu quả, kịp thời, ngay từ đầu những hành vi nhen nhóm phá hoại, gây rối của các phần tử xấu, bọn phản động, không để bị động bất ngờ; không để xảy ra “điểm nóng”. Đẩy mạnh phong trào toàn dân bảo vệ an ninh Tổ quốc. Chủ động phòng ngừa, ngăn chặn, kiềm chế, không để tội phạm gia tăng, nhất là các tội phạm ma túy, trộm cắp, cờ bạc, cướp của, giết người. Tăng cường quản lý nhà nước về an ninh trật tự; đảm trật tự an toàn giao thông, kiềm chế và đẩy lùi tai nạn giao thông.

Xây dựng lực lượng Công an nhân dân ngày càng trong sạch vững mạnh, giáo dục bản lĩnh chính trị, ý chí chiến đấu, rèn luyện phẩm chất, đạo đức cách mạng; làm tốt công tác đào tạo, bồi dưỡng, không ngừng nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ. Thực hiện chặt chẽ quy chế phối hợp giữa công an, quân sự nhằm xử lý có hiệu quả các tình huống liên quan quốc phòng, an ninh ở địa phương.

4- Nâng cao năng lực và hiệu lực quản lý, điều hành của bộ máy nhà nước các cấp ở địa phương

Tiếp tục nâng cao hiệu quả hoạt động của HĐND huyện và các xã, thị trấn, trọng tâm là nâng cao chất lượng các kỳ họp, các cuộc tiếp xúc cử tri và hoạt động giám sát của Thường trực HĐND, các ban HĐND và đại biểu HĐND; thường xuyên tổ chức bồi dưỡng kiến thức pháp luật và kỹ năng phương pháp hoạt động cho đại biểu HĐND.

Tiếp tục đẩy mạnh cải cách hành chính, kiện toàn bộ máy các cơ quan nhà nước theo hướng tinh gọn, hiệu quả; củng cố, xây dựng chính quyền cơ sở vững mạnh, đủ sức giải quyết những vấn đề bức xúc nảy sinh ở cơ sở. Đào tạo, bồi dưỡng, sắp xếp lại đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức theo đúng chức danh tiêu chuẩn của từng vị trí việc làm. Tiếp tục rà soát và đẩy mạnh thực hiện cải cách thủ tục hành chính theo cơ chế “một cửa”, “một cửa liên thông”; nâng cao vai trò, trách nhiệm của người đứng đầu cơ quan hành chính nhà nước, gắn với giáo dục tinh thần trách nhiệm, chấn chỉnh thái độ, tác phong, nâng cao chất lượng phục vụ nhân dân của đội ngũ cán bộ, công chức các cấp. Tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra, giám sát, xử lý vi phạm nhằm giữ vững kỷ cương trong quản lý hành chính. Tạo điều kiện thúc đẩy các dịch vụ công hình thành và phát triển theo quy định của pháp luật để phục vụ tốt hơn nhu cầu đa dạng của nhân dân.

Đẩy mạnh công tác đấu tranh phòng, chống tham nhũng; thực hành tiết kiệm, chống lãng phí; thực hiện dân chủ, công khai minh bạch trong xây dựng dự toán thu - chi, quyết toán ngân sách nhà nước, vốn đấu tư xây dựng cơ bản. Tăng cường kiểm tra, giám sát các hoạt động liên quan đến tài sản công và ngân sách nhà nước; kiên quyết xử lý nghiêm minh các hành vi tham nhũng, lãng phí.

Tiếp tục đẩy mạnh cải cách và nâng cao chất lượng hoạt động của các cơ quan tư pháp theo tinh thần Nghị quyết số 49-NQ/TW, ngày 02/6/2005 của Bộ Chính trị (khóa X) và các Kết luận số 79-KL/TW, ngày 28/7/2010, Kết luận số 92-KL/TW, ngày 12/3/2014 của Bộ Chính trị (khóa XI) về chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020. Xây dựng các cơ quan bảo vệ pháp luật ngày càng trong sạch vững mạnh. Không ngừng nâng cao chất lượng công tác điều tra, truy tố, xét xử và thi hành án; không để xảy ra án oan, sai và bỏ lọt tội phạm. Kiên quyết đấu tranh ngăn chặn và xử lý nghiêm minh các hành vi vi phạm pháp luật. Đẩy mạnh công tác tuyên truyền phổ biến và giáo dục pháp luật cho cán bộ công chức và các tầng lớp nhân dân trong huyện; tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa bảo đảm pháp luật được thực hiện một cách nghiêm chỉnh và thống nhất.

5- Phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc

Tiếp tục củng cố và tăng cường khối đại đoàn kết toàn dân tộc, phát huy dân chủ, tạo sự đồng thuận trong xã hội. Thực hiện mở rộng và đa dạng hoá các hình thức vận động, tập hợp đoàn kết rộng rãi các tầng lớp nhân dân vào các tổ chức hội, đoàn thể.

Tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể nhân dân. Làm tốt công tác dân vận, chăm lo lợi ích chính đáng, thiết thực của nhân dân; sâu sát cơ sở, lắng nghe ý kiến của dân, giải quyết khó khăn, xử lý kịp thời những vấn đề bức xúc trong nội bộ nhân dân. Đổi mới mạnh mẽ nội dung, phương thức hoạt động của Mặt trận và các đoàn thể; tiếp tục tập hợp quần chúng vào các phong trào hành động cách mạng và các tổ chức phù hợp. Phát huy vai trò nòng cốt của Mặt trận và các đoàn thể trong việc vận động các tầng lớp nhân dân thực hiện nhiệm vụ chính trị của huyện. Thực hiện tốt chức năng giám sát, phản biện xã hội và tham gia xây dựng Đảng, xây dựng chính quyền.

Thực hiện có hiệu quả quy chế dân chủ ở cơ sở; phát huy quyền làm chủ của nhân dân trên tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội. Giáo dục ý thức chấp hành pháp luật, giữ vững kỷ cương; đấu tranh phê phán và xử lý nghiêm minh những hành vi vi phạm quyền làm chủ của nhân dân, những hành vi lợi dụng dân chủ để gây rối, phá hoại khối đại đoàn kết toàn dân tộc. Đẩy mạnh phong trào thi đua yêu nước trong các tầng lớp nhân dân; xây dựng thực lực chính trị ở cơ sở, củng cố, tăng cường khối đại đoàn kết toàn dân tộc vững mạnh. Chăm lo đời sống, lợi ích chính đáng của các tầng lớp nhân dân, cho đồng bào dân tộc thiểu số. Thực hiện đúng chính sách tự do tín ngưỡng, tôn giáo.

6- Tăng cường công tác xây dựng Đảng, nâng cao năng lực và sức chiến đấu của Đảng

6.1- Công tác chính trị, tư tưởng

Tập trung đẩy mạnh giáo dục chủ nghĩa yêu nước, truyền thống dân tộc, truyền thống cách mạng vẻ vang của Đảng; đổi mới phương pháp và nâng cao hơn nữa chất lượng, hiệu quả việc tổ chức học tập, quán triệt Nghị quyết của Đảng. Coi trọng công tác giáo dục chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh. Tăng cường tuyên truyền, cổ vũ các phong trào hành động cách mạng, kịp thời phát hiện nhân rộng các điển hình tiên tiến. Thực hiện đạt kết quả cao nhất chương trình bồi dưỡng lý luận chính trị và nghiệp vụ công tác Đảng, chính quyền, đoàn thể hàng năm theo quy định. Đẩy mạnh công tác nắm bắt và xử lý tốt những vấn đề dư luận xã hội quan tâm, góp phần củng cố và tăng cường đoàn kết thống nhất trong Đảng và sự đồng thuận trong nhân dân.

Tiếp tục đẩy mạnh việc học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh ngày càng đi vào chiều sâu và thực chất, gắn với việc thực hiện nghiêm Nghị quyết Trung ương 4 (khóa XI) “Một số vấn đề cấp bách về xây dựng Đảng hiện nay”; trong đó, các cấp ủy trong quá trình lãnh đạo, chỉ đạo phải thường xuyên rà soát, kịp thời phát hiện những khuyết điểm, tồn tại trên tinh thần thực hiện thật tốt việc tự phê bình và phê bình và có kế hoạch khắc phục, sửa chữa đạt kết quả; khắc phục có hiệu quả tình trạng suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức lối sống trong một bộ phận cán bộ, đảng viên.

6.2- Về công tác tổ chức, nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của tổ chức Đảng các cấp; về dân chủ, kỷ luật, kỷ cương và đoàn kết trong Đảng và thực hiện chiến lược cán bộ

Tiếp tục kiện toàn tổ chức, bộ máy, nâng cao chất lượng hoạt động của hệ thống chính trị từ huyện đến cơ sở. Bảo đảm phát huy tốt nhất vai trò, hiệu lực của từng tổ chức dưới sự lãnh đạo trực tiếp của cấp ủy.

Quan tâm xây dựng đội ngũ cán bộ đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ mới, có bản lĩnh chính trị vững vàng, phẩm chất đạo đức tốt, lối sống lành mạnh; vững về chuyên môn nghiệp vụ. Chú trọng đội ngũ cán bộ nữ, cán bộ trẻ nhằm đảm bảo tính kế thừa. Tiếp tục đổi mới công tác đánh giá cán bộ. Bố trí cán bộ đúng theo năng lực, sở trường; mạnh dạn đề bạt cán bộ trẻ có năng lực, có triển vọng; đồng thời thay thế kịp thời cán bộ, công chức không hoàn thành nhiệm vụ, không đáp ứng được yêu cầu công việc; xử lý nghiêm những cán bộ thiếu tinh thần trách nhiệm, không chịu tu dưỡng rèn luyện, vi phạm kỷ luật, vi phạm pháp luật. Làm tốt công tác quy hoạch, đào tạo, bồi dưỡng gắn với luân chuyển cán bộ. Tiếp tục thực hiện nghiêm túc việc lấy phiếu tín nhiệm cán bộ.

Tập trung xây dựng, củng cố, nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của các tổ chức đảng các cấp. Tiếp tục đổi mới và nâng cao chất lượng sinh hoạt chi ủy, chi bộ, nhất là chi bộ thôn, khu phố; thực hiện thật tốt tinh thần tự phê binh và phê bình trong sinh hoạt đảng; đánh giá, phân tích chất lượng tổ chức cơ sở đảng và đảng viên đảm bảo đúng thực chất. Giữ vững đoàn kết nhất trí nội bộ và chấp hành nghiêm các nguyên tắc tổ chức và sinh hoạt Đảng. Coi trọng và phát huy đúng mức vai trò hạt nhân chính trị của chi bộ ở cơ sở. Tổ chức đảng và đảng viên phải giữ mối liên hệ thường xuyên với quần chúng nhân dân nơi công tác và nơi cư trú. Tăng cường công tác bảo vệ chính trị nội bộ.

6.3- Về công tác kiểm tra, giám sát

Tăng cường công tác kiểm tra, giám sát của cấp ủy và ủy ban kiểm tra các cấp. Trọng tâm là kiểm tra, giám sát việc thực hiện các chủ trương, nghị quyết, kỷ luật của Đảng, pháp luật của Nhà nước; thực hiện nhiệm vụ và ý thức rèn luyện, tu dưỡng đạo đức cách mạng của người đảng viên. Đẩy mạnh đấu tranh phòng, chống tham nhũng, lãng phí. Giải quyết tốt đơn thư khiếu nại, tố cáo. Phối hợp chặt chẽ, đồng bộ giữa công tác kiểm tra, giám sát của Đảng với công tác thanh tra của chính quyền, hoạt động giám sát của Hội đồng nhân dân, Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam các cấp. Xử lý nghiêm minh, kịp thời những trường hợp vi phạm kỷ luật Đảng, pháp luật của Nhà nước và các vụ việc tiêu cực. Tăng cường thực hiện chất vấn trong Đảng.

Công tác kiểm tra, giám sát của Đảng luôn là nhiệm vụ thường xuyên trong quá trình lãnh đạo; đồng thời gắn liền với công tác kiểm tra, giám sát của chính quyền, các ban ngành, mặt trận và các đoàn thể; trước hết các cấp ủy phải chủ động, có kế hoạch, định kỳ kiểm tra, giám sát việc thực hiện các Nghị quyết, chỉ thị của Đảng, pháp luật của nhà nước và nhiệm vụ chính trị của Đảng bộ. Kịp thời giải quyết các vụ việc nổi cộm, giữ vững kỷ luật, kỷ cương trong Đảng, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị và đạo đức lối sống của cán bộ, đảng viên; xây dựng cơ sở đảng trong sạch, vững mạnh.

III- NHỮNG NHIỆM VỤ TRỌNG TÂM CẦN TẬP TRUNG LÃNH ĐẠO

Để thực hiện thắng lợi những nhiệm vụ trên, 05 năm đến, toàn Đảng bộ cần tập trung sức lãnh đạo thực hiện 04 nhiệm vụ trọng tâm sau:

1- Ra sức xây dựng tổ chức Đảng trong sạch, vững mạnh, tập trung đúng mức cho công tác cán bộ, nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức; kiên quyết ngăn chặn và đẩy lùi tình trạng suy thoái về tư tưởng chính trị và đạo đức lối sống gắn với đẩy mạnh đấu tranh phòng, chống tham nhũng, quan liêu trong đội ngũ cán bộ.

2- Tập trung triển khai các giải pháp nhằm huy động, phát huy mọi tiềm năng, lợi thế của huyện, thu hút mạnh mẽ các nguồn lực xã hội, phấn đấu phát triển kinh tế - xã hội trên tất cả các lĩnh vực; khai thác và phát huy có hiệu quả những lợi thế tiềm năng và nâng cao sức cạnh tranh của các sản phẩm chủ yếu của huyện, tạo điều kiện phát triển sản xuất, thu hút đầu tư. Trên cơ sở đó thực hiện tốt 03 mục tiêu, nhiệm vụ trọng tâm, đột phá, đó là:

- Một là, đến năm 2020 huyện được công nhận huyện đạt chuẩn Nông thôn mới;

- Hai là, chuyển đổi mạnh mẽ cơ cấu cây trồng, gắn với áp dụng rộng rãi những thành tựu khoa học và công nghệ vào sản xuất để nâng cao năng suất cây trồng và tăng giá trị thu nhập trên một đơn vị diện tích;

- Ba là, đẩy mạnh đầu tư kết cấu hạ tầng tại các cụm công nghiệp để mời gọi các doanh nghiệp đầu tư sản xuất, nhất là sản xuất, chế biến các mặt hàng nông sản.

3- Tăng cường, củng cố quốc phòng; giữ vững an ninh chính trị và trật tự an toàn xã hội gắn với giải quyết có hiệu quả những vấn đề bức xúc về mặt xã hội.

4- Thực hiện tốt các chính sách đền ơn đáp nghĩa, phúc lợi xã hội và an sinh xã hội, giảm nghèo bền vững đi đôi với xây dựng con người về đạo đức, nhân cách, lối sống và môi trường văn hóa lành mạnh.

Năm năm tới, tập trung phát huy những thuận lợi, khắc phục khó khăn, thử thách, toàn Đảng, toàn dân, toàn quân huyện Đức Linh đoàn kết nhất trí, nỗ lực phấn đấu đẩy mạnh phong trào thi đua yêu nước; nhất định chúng ta sẽ thực hiện thắng lợi Nghị quyết Đại hội Đảng bộ huyện lần thứ XI đề ra./.



(1)Các nhà máy có quy mô lớn như: Nhà máy chế biến lương thực của Công ty TNHH Đại Nhật Phát, Doanh nghiệp chế biến tinh bột mỳ Tiến Phát, Nhà máy chế biến thức ăn gia súc Japfa Comfeed, Nhà máy chế biến mủ cao su Suối Kè của Công ty Cao su Bình Thuận, Công ty Thắng Lợi, Công ty Sao Thái Dương.

(2)Đến nay, toàn huyện có gần 90 nghìn thuê bao di động trên toàn mạng, đạt gần 280 máy/100 hộ dân, có gần 7 nghìn máy tính được kết nối internet, đạt gần 23 máy/100 hộ dân.

(3)Gồm: Võ Xu, Nam Chính, Đức Chính, Đức Tài, Mê Pu, và Sùng Nhơn.

(4) Trong 5 năm đã phát triển thêm 02 Chi nhánh ngân hàng (Vietinbank, Vietcombank), 01 Quỹ tín dụng nhân dân, nâng tổng số ngân hàng và các quỹ tín dụng lên 11 cơ sở.

(5)Toàn huyện hiện có 13 hợp tác xã và 17 tổ hợp tác, với tổng số vốn hoạt động kinh doanh trên 105.000 triệu đồng.

(6) Đến cuối năm 2015, có 82 thôn, khu phố phát động xây dựng và có 25 thôn, khu phố được công nhận, tái công nhận danh hiệu thôn, khu phố văn hóa; 85,5% hộ gia đình được công nhận danh hiệu gia đình văn hóa; 95,5% cơ quan, đơn vị được công nhận “đạt chuẩn văn hóa”

(7) Trong 5 năm đã xây dựng 04 công trình đài tưởng niệm liệt sỹ, 03 công trình đài chiến thắng, xây dựng 17 căn nhà tình nghĩa, sửa chữa 117 nhà tình nghĩa; xây mới 446 căn nhà tình thương chủ yếu bằng nguồn vốn huy động trong nhân dân và một phần ngân sách nhà nước...

BAN CHẤP HÀNH ĐẢNG BỘ HUYỆN KHÓA X

      
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 

 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 

Liên kết web

 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 

Số lượt truy cập

1462668
 
 
 
 
Tin tức - Sự kiện - Huyện Đức Linh, Tỉnh Bình Thuận
Trang thông tin điện tử huyện Đức Linh là thành viên Cổng Thông tin điện tử tỉnh Bình Thuận
Bản quyền thuộc UBND huyện Đức Linh

Trưởng Ban Biên tập: Trưởng Phòng Văn hóa và Thông tin

Địa Chỉ: khu phố 1, thị trấn Võ Xu, huyện Đức Linh, tỉnh Bình Thuận

Điện thoại: 0623882133, 0623882140; Fax:0623520247

Email: phongvanhoahuyenduclinh@duclinh.binhthuan.gov.vn

Thiết kế và phát triển bởi Unitech